Sunday, March 28, 2010



"Tôi cũng không làm nhục các anh như các anh làm nhục tôi. Tôi cũng không hỏi các anh câu mà các anh hỏi tôi. Tôi chiến đấu cho tự do của người dân. Tôi có công mà không có tội. Không ai có quyền kết tội tôi. Lịch sử sẽ phê phán xét đoán các anh là giặc đỏ hay tôi là ngụy. Các anh muốn giết tôi, cứ giết đi. Xin đừng bịt mắt. Đả đảo cộng sản. Việt Nam muôn năm".


Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn (24 tháng 3 năm 1938 - 14 tháng 8 năm 1975)


Là một sĩ quan trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông giữ nhiều chức vụ tác chiến trong binh chủng biệt động quân trong giai đoạn đầu đường binh nghiệp, rồi được biệt phái sang các Sư đoàn 21 và Sư đoàn 9 bộ binh. Chức vụ cuối cùng lúc bị phía cộng sản bắt là đại tá tỉnh trưởng tỉnh Chương Thiện (tỉnh lị là Vị Thanh nay là tỉnh lị tỉnh Hậu Giang). Sau khi lệnh từ Sài Gòn kêu gọi buông súng ông vẫn còn chiến đấu để cuối cùng đối phương vây bắt và mang ra xử bắn tại sân vận động Cần Thơ ngày 14 tháng 8 năm 1975.

Thiếu thời

Ông sinh ngày 24 tháng 3 năm 1938, tại miền tây. Thân phụ là một hạ sĩ quan trong quân đội Quốc gia Việt Nam. Thuở nhỏ ông rất khỏe mạnh, không hề bị bệnh tật gì. Năm 10 tuổi ông bị bệnh quai bị, cả hai bên. Tính tình hiền hậu, giản dị, trầm tư, ít nói. Khi ông bắt đầu đi học năm (1945) thì Chiến tranh Pháp-Việt bùng nổ, nên sự học bị gián đoạn. Mãi đến năm 1947 ông mới được đi học lại. Ông học chỉ đứng trung bình trong lớp. Năm 1951, phụ thân nộp đơn xin cho ông nhập học trường thiếu sinh quân. Thời điểm này, trên toàn lãnh thổ Việt Nam có 7 trường thiếu sinh quân như sau:
Trường thiếu sinh quân đệ nhất quân khu, ở Gia Định
Trường thiếu sinh quân đệ nhị quân khu ở Huế
Trường thiếu sinh quân đệ tam quân khu ở Hà Nội
Trường thiếu sinh quân Móng Cái dành cho sắc dân Nùng
Trường thiếu sinh quân đệ tứ quân khu ở Ban Mê Thuột
Trường thiếu sinh quân Đà Lạt của quân đội Pháp
Trường thiếu sinh quân Đông Dương của quân đội Pháp, ở Vũng Tàu

Ông được thu nhận vào lớp nhì trường thiếu sinh quân đệ nhất quân khu niên khóa 1951-1952. Trường này dạy theo chương trình Pháp. Ông đỗ tiểu học năm 1952. Cuối năm 1952, trường thiếu sinh quân đệ nhất quân khu di chuyển từ Gia Định về Mỹ Tho.
Khi Hiệp định Genève ký ngày 20 tháng 7 năm 1954, thì ngày 19 tháng 8 năm 1954, trường thiếu sinh quân đệ tam quân khu di chuyển từ Hà Nội vào, sát nhập với trường đệ nhất quân khu ở Mỹ Tho. Niên học 1954-1955, trường bắt đầu dạy chương trình Việt, và chỉ mở tới lớp đệ ngũ. Ông học lớp đệ lục A, giáo sư dạy Việt văn là ông Nguyễn Hữu Hùng, từ Bắc di cư vào. Thực là một điều lạ là giữa một số bạn học chương trình Việt từ Bắc vào mà ông lại tỏ ra xuất sắc về môn Việt văn. Trong năm học, có chín kỳ luận văn, thì bài của ông được tuyển chọn là bài xuất sắc, đọc cho cả lớp nghe bảy kỳ. Nhưng bài của ông chỉ đứng thứ nhì trong lớp mà thôi.

Binh nghiệp
Năm 17 tuổi ông được gửi lên học tại Liên trường võ khoa Thủ Đức, về vũ khí, niên khóa 1955-1956. Sau ba tháng, ông đậu chứng chỉ chuyên môn về vũ khí bậc nhất với hạng ưu. Sáu tháng sau đó, ông lại đậu chứng chỉ bậc nhì, và bắt đầu ký đăng vào quân đội với cấp bậc binh nhì.
Theo quy chế dành cho các thiếu sinh quân thời đó, một học sinh ra trường, thì ba tháng đầu với cấp bậc binh nhì, ba tháng sau với cấp bậc hạ sĩ, ba tháng sau thăng hạ sĩ nhất, và ba tháng sau nữa thăng trung sĩ. Chín tháng sau ông là trung sĩ huấn luyện viên về vũ khí.
Chiến tranh tại miền Nam tái phát vào năm 1960 tại một vài vùng. Sang năm 1961 thì lan rộng. Để giải quyết nhu cầu thiếu sĩ quan, bộ quốc phòng cho mở các khóa sĩ quan đặc biệt. Ông được nhập học Khóa 2 Hiện Dịch thuộc Trường Hạ Sỉ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại Đồng Đế Nha Trang và tốt nghiệp khóa sĩ quan đặc biệt với cấp bậc chuẩn úy.

Sau khi ra trường, ông theo học một khóa huấn luyện biệt động quân, rồi thuyên chuyển về phục vụ tại khu 42 chiến thuật, với chức vụ khiêm tốn là trung đội trưởng thuộc tiểu đoàn 42 biệt động quân "Cọp ba đầu rằn". Lãnh thổ khu này gồm các tỉnh Cần Thơ (Phong Dinh), Chương Thiện, Sóc Trăng (Ba Xuyên), Bạc Liêu, Cà Mau (An Xuyên). Nhờ tài chỉ huy thiên bẩm và chiến đấu gan dạ nên ông được thăng cấp đặc cách nhiều lần tại mặt trận lên đến trung úy và được bổ nhiệm làm tiểu đoàn phó tiểu đoàn 42.
Cuối năm 1966, ông từ biệt tiểu đoàn 42 biệt động quân đi làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 trung đoàn 33 thuộc sư đoàn 21 bộ binh. Suốt năm 1967, ông với tiểu đoàn 1 tung hoành trên khắp lãnh thổ năm tỉnh vùng sông Hậu. Sau trận tổng công kích Mậu Thân, ông được thăng thiếu tá. Năm 1968, ông là người có nhiều huy chương nhất quân đội.
Năm 1970, ông được thăng trung tá và rời tiểu đoàn 1 trung đoàn 33 đi làm trung đoàn trưởng trung đoàn 15 thuộc sư đoàn 9 bộ binh. Năm 1972, ông được lệnh mang trung đoàn 15 từ miền Tây lên giải phóng An Lộc. Cuối năm 1973, ông được trở về chiến trường sình lầy với chức vụ tỉnh trưởng, kiêm tiểu khu trưởng tỉnh Chương Thiện.

Trận chiến cuối cùng
Cộng Sản Việt Nam hèn hạ dùng nhục hình để xử tử hình Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn ngày 14-8-1975.
Sau khi lệnh từ Sài Gòn kêu gọi buông súng ông vẫn còn chiến đấu. Các đơn vị quân cộng sản tiến vào tiếp thu tiểu khu Chương Thiện, thì gặp sức kháng cự, chết rất nhiều. Cuối cùng ông bị bắt và mang ra xử bắn tại sân vận động Cần Thơ ngày 14 tháng 8 năm 1975. Trước lúc bị hành hình, những người cộng sản xử ông hỏi ông có nhận tội vừa nêu ra không thì ông trả lời như sau:
"Nếu tôi thắng trong cuộc chiến, tôi sẽ không kết án các anh như các anh kết án tôi. Tôi cũng không làm nhục các anh như các anh làm nhục tôi. Tôi cũng không hỏi các anh câu mà các anh hỏi tôi. Tôi chiến đấu cho tự do của người dân. Tôi có công mà không có tội. Không ai có quyền kết tội tôi. Lịch sử sẽ phê phán xét đoán các anh là giặc đỏ hay tôi là ngụy. Các anh muốn giết tôi, cứ giết đi. Xin đừng bịt mắt. Đả đảo cộng sản. Việt Nam muôn năm".
Người dân Cần Thơ lén đưa thi thể có Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn về ... và phủ cho một lá cờ Việt Nam Cộng Hòa ... mà cố Đại Tá đã suốt đời phục vụ cho lý tưởng của Việt Nam Cộng Hoà.

NGUYEN HUY HUNG

June 19th 2010 / Ngay Quan Luc 19-6-2010

Friday, March 5, 2010

ĐÀ NẴNG NGÀY RA TRẠI


Quán đèn dầu. Thành phố loang bóng tối
Cảnh đìu hiu. Người lãng đãng, dật dờ
Chỉ một năm! Cứ như sống trong mơ
Phố cằn cỗi, người già nua. Nhức nhối!

Đêm Đà Nẵng, tháng 3! Mùa gió nổi
Quán không tên, leo loét bóng in tường
Nhớ bạn bè. Nhớ đồng cảnh thân thương
Còn nghiệt ngã trong cảnh đời tù tội.

Mới tròn năm đã quá nhiều thay đổi!
Ta về đây mà ngỡ lạc chốn nào
Phố bây giờ: nhà trống giữa rừng sao
Buồn như thể đồng hoang đêm sa mạc.

Một năm thôi! Đủ cho lòng tan tác
Xót nhục hình. Vàng đá tựa bèo trôi
Mắt thâm u. Lời ngậm kín trên môi
Cho nặng trĩu bóng đời mờ nhân ảnh.

Vừa ra trại đã thấy sầu nặng gánh
Đà Nẵng ơi! Ta trở lại đây rồi!
Chi thấy lòng thêm tẻ lạnh mà thôi
Kỷ niệm củ, thành phố xưa...đã chết!

Mai ta đi tiếng lòng sao nói hết
Câu tâm tình bất chợt thoảng qua mau
Chào Cầu Vòng mới đó đã lạ nhau
Vì Đà Nẵng nay đã thay chủ mới.

Mai ta đi sẽ không cần nhắn gởi
Vì thân thương, dấu ái đã mù khơi
Kẻ biệt tăm, người đang trả nợ đời
Còn ai nữa để mong lần gặp lại!?

Mai ta đi biết đâu là mãi mãi
Không quay về chốn cũ, một thời qua
Đà Nẵng ơi! Dẫu muôn trùng hồ hãi
Vẫn nhớ hoài phố, núi, biển...áo hoa!

HUY VĂN
20-03-1976
( Qúy tặng: Trần Ngọc Dũng, TĐ2 TQLC, Nguyễn Văn Bốn, Nguyễn Văn Tài
TK Quảng Nam, để nhớ ngày về từ Hiệp Đức )

Tuesday, March 2, 2010

Mùa Xuân Hạnh Ngộ


Thân ái chuyển đến quý Đồng Môn và Đồng Khóa.Đặc biệt là Khóa 3/72 (TĐ2 SVSQ) để cùng nhớ những chiều ở Gành Ráng cuối tháng 1/1973.Hùynh Văn Của 727
Huy Văn

Trở về Đồng Đế chưa bao lâu, chưa kịp hít thở lại không khí kỷ luật của quân trường thì lại có lệnh chuẩn bị cho chuyến công tác kế tiếp. Lần này mới đúng là chiến dịch giải thích Hiệp Định Paris. Vì vậy, ai nấy chỉ có đủ thời gian để lục soạn chiếc rương trên giường, rồi cuối tuần khoát bộ đồ đi phép ra Quân Y Viện Nguyễn Huệ thăm các bạn không may bị trọng thương trong tai nạn L19 đụng GMC thật hi hữu ở dốc Lương Sơn, Xã Chợ Lầu, quận Hòa Đa, Bình Thuận hai ngày trước: 19 tháng giêng 1973.

Hiệp Định Paris! Hy vọng mong manh của một nền hòa bình chân chính. Một thiệt thòi của miền Nam về mặt chính trị lẫn quân sự, nhưng SàiGòn vẫn phải nghiến răng chấp nhận. Vì vậy mục tiêu chính của lần công tác này là công việc “ lấn đất giành dân “, hay có thể sẽ là thành phần trừ bị để giữ gìn an ninh xã, ấp để các lực lượng địa phương quân tung hết khả năng vào việc thanh toán mục tiêu, diệt địch và tháo cờ, giữ đất. Ngay lúc này vẫn còn giao tranh đẫm máu tại nhiều nơi. Ngày nào trên đài phát thanh cũng dồn dập tin tức chiến sự, đặc biệt là tại vùng Cửa Việt ngoài Quân Khu 1. Lo thì có lo nhưng trong lòng ai nấy cũng vẫn thấy vui vì ít ra đây cũng là một cuộc “ du xuân miễn phí “ .

Quốc Lộ 1- đoạn từ Nha Trang ngược bắc- chạy song song với đường xe lửa xuyên Việt làm tăng thêm tưởng tượng về một chuyến hành trình thật thú vị cho những ai có óc phiêu lưu đây đó. Nhưng chuyến tàu Nam Bắc đã không còn. Tà vẹt và đường sắt nằm chơ vơ trên ụ đất trông thật thảm hại làm sao! Chiến tranh đã làm những con đường hầm, như đoạn xuyên qua đèo Rù Rì, trở thành những thạch động mốc meo, ẩm thấp đến… lạnh lùng. Chỉ vừa xong điếu thuốc là đã thấy Ninh Hòa. Vùng đất một thời vang danh không chỉ với “ Sơn thành trấn ải…” trong đó Hòn Vọng Phu nổi tiếng nhứt, mà còn là ngả ba huyết mạch nối biển đông với rừng núi cao nguyên qua ngỏ Khánh Dương, Dục Mỹ, xứ sở của cây trái bốn mùa, đặc biệt là trái thanh long mát lòng, và của đầm Nha Phu với ghe chài ban đêm chong đèn như đom đóm.

Rồi khi xe đến vùng Đại Lãnh thì mọi người lại dồn mắt qua một bên để trầm trồ, ngây ngất với biển xanh, cát trắng, từ mé nước xoải dài đến tận đường xe chạy. Bãi cát trắng phau, dài khoảng chừng một cây số đang nằm phơi mình đón nhận bóng mát của những hàng dương cao, rậm cùng với bọt sóng đang từng cơn uể oải tràn lên bờ. Như để tăng thêm vẻ đẹp của thiên nhiên, ngoài khơi Đại Lãnh là hai hòn đảo nhô cao trên mặt nước, sừng sững như hai pháo đài hay vọng gát để canh phòng cho bờ biển tuyệt đẹp vào bậc nhất của Việt Nam, và có thể là cả Đông Nam Á Châu không chừng.

- Sao không thấy ai mở nhà hàng hay khách sạn ở đây hết vậy? Một bạn hỏi lớn trong tiếng gió.

- Để bị tụi nó chộp cổ hả? Có tiếng đáp lại ngay. Không thấy nhà ga xe lửa còn bị bỏ hoang hay sao?!

Không có tiếng trả lời. Mọi người chỉ im lặng ngoái lại nhìn bức tranh tuyệt mỹ của thiên nhiên vừa khuất sau cua quẹo, rồi chuyển tầm mắt lên hướng núi khi đoàn GMC chuẩn bị leo đèo Cả, nơi có núi Đá Bia, cao khoảng 700 mét, nằm sát chân đèo, cũng là nơi Vua Lê Thánh Tôn cho cắm cờ và khắc chữ vào bia đá để kỷ niệm cuộc nam tiến sau khi bình định Chiêm Thành và mở mang lãnh thổ vào năm 1471. Anh bạn khi nãy đã nói đúng. Chiến tranh có mặt khắp nơi. Ngay cả trên đoạn đèo 12 km này cũng đầy dẫy những dấu vết của những lần giao tranh hay phục kích, đắp mô trước đây. Từ trên cao nhìn xuống, Vũng Rô như muốn ôm lấy núi rừng của dãy Trường Sơn cận duyên. Núi nghiêng sườn dốc như muốn lấn qua mặt lộ. Còn biển thì lùa sóng, tung bọt trắng xóa lên ghềnh đá sát đường, tạo cảm giác như có thể xòe tay hứng được những giọt nước mong manh đang theo gió thốc lên theo đà xe chạy.

Nơi nào là điểm nóng lịch sử của ngày 16-02-1965, ngày mà một viên phi công trực thăng Mỹ đã tình cờ khám phá chiếc tàu Trung cộng dài chừng 40 mét- ngụy trang khéo đến mức mới đầu anh bạn đồng minh tưởng mình hoa mắt khi nhìn thấy “ một hòn đảo nhỏ “ - từ từ trôi trong vịnh Vũng Rô? Thật tội nghiệp cho Quân Đội miền nam lúc bấy giờ! Trong khi đa số đơn vị tác chiến, kể cả Tổng Trừ Bị của QLVNCH còn ôm Garant M1, Carbine M1& M2, Tiểu Liên Thompson, Trung Liên Bar, hay Đại Liên 30, thì con tàu không có bảng số của Trung cộng đã mang trong khoang hơn 100 tấn vũ khí, đạn dược và chất nổ, đặc biệt là các loại vũ khí cá nhân tối tân nhứt như AK47, AK50, B40, B41…v/v…Phải cần đến một lực lượng đặc nhiệm bao gồm Không Quân, Hải Quân, Lực Lượng Đặc Biệt và Người Nhái mới đẩy lui quân địch trên bờ và đánh chìm chiếc tàu trước khi trục vớt toàn bộ chiến lợi phẩm.

Qua khỏi Vũng Rô, đoàn xe rời ven biển, vào đồng bằng duyên hải và cứ thế chạy lên hướng bắc. Trên xe là những trao đổi không ngớt về cảnh đẹp vừa qua. Câu chuyện về thắng cảnh chưa dứt thì đã thấy chiếc cầu trên sông Đà Rằng và thành phố Tuy Hòa, tỉnh lỵ của Phú Yên, một tỉnh nhỏ nhưng có thể gọi là vựa lúa của chốn khô cằn vì cánh đồng Tuy Hòa vốn rộng lớn nhứt miền Trung Phần Nam Việt. Đà Rằng! Con sông có nguồn nước cuồn cuộn từ cao nguyên Kontum khi về xuôi thì lại uể oải, len lỏi qua vùng hạ lưu bằng phẳng để từ tốn đổ vào Nam Hải. Sông không sâu nhưng bờ cát rộng, vì vậy Đà Rằng là nơi có chiếc cầu hỏa xa dài nhứt Việt Nam, chạy song song với cầu xa lộ dài hơn một cây số của quốc lộ1. Một thành tích kiến tạo của Công Binh Việt Nam mới đây! Tuy Hòa khiêm nhường trải ngang từ quốc lộ ra biển, không mang sắc thái kiêu sa hay có nhiều thắng cảnh ngoạn mục như Nha Trang, nhưng cũng không thiếu di tích lịch sử của văn minh Chiêm Quốc, đặc biệt là tháp Chàm trên núi Nhạn sát Quốc Lộ1, chưa kể Tỉnh Lộ số 7 nối miền biển với Pleiku và các tỉnh trên cao nguyên qua ngả Phú Bổn, tỉnh mới thành lập của Việt Nam Cộng Hòa năm 1962 với tỉnh lỵ Cheo Reo, cách Tuy Hòa chừng 120 Km.

Quốc Lộ 1 từ đoạn này, lượn vòng lên hướng tây bắc, với một bên là đất hoang, đồi trọc, xóm làng thưa thớt, và bên này những đụn cát chạy dài ra tận biển, rồi tẻ dần qua hướng chính đông, để cặp sát biển, chạy thẳng lên phía bắc. Lại cảnh trời, nước lao xao với hương biển mặn ngập tràn trong gió. Khung cảnh gần giống như đoạn Vũng Rô ở phía nam, với sóng xô bờ đá, tung bọt lên sát mặt lộ. Đây cũng là nét độc đáo của vùng biển Phú Yên với các đầm, vịnh, cùng bán đảo nằm ở hai đầu nam, bắc. Nhưng lần này thì cảnh vật có vẻ vừa hùng vĩ lại vừa nên thơ khi đá núi và biển nước chỉ cách nhau có một mặt lộ rộng chừng hơn mười mét, còn ngoài khơi là một bán đảo hình vòng cung đang vươn mình tắm nắng.

- Đây là chỗ nào mà đẹp quá vậy?!

- Quận Sông Cầu. Không thấy tấm bảng bên đường đó sao!? Mình vừa qua Vũng Chao. Bây giờ đang tới Vịnh Xuân Đài. Phía trước còn nhiều cảnh đẹp hơn nữa.

- Sao mày có vẻ rành khu này quá vậy Khanh?

- Quê ngoại của tao ở Tuy An. Tao qua lại con đường này từ hồi mới biết đi lận. Sao lại không rành?

Đoàn xe dừng lại ngay khi vào quận lỵ nghỉ trưa sau khi đã vượt đúng 200 cây số. Đường xá vắng ngắt. Thỉnh thoảng mới có một chuyến xe Lam hay một quân xa chậm chạp lướt qua. Lính rải dài hai bên đường. Thấp thoáng có vài ba bóng người từ trong nhà dân nhìn ra. Không khí tĩnh lặng tiêu biểu của vùng quê đang …ngái ngủ.

- Đẹp quá! Không khác miền lục tỉnh chút nào cả!

- Đúng đó! Y hệt như ở quê tao!

- Quê mày ở đâu?

- Thủ Thừa.

Đẹp thật! Nếu không có hương biển đâu đây và thấp thoáng bóng núi ẩn hiện xa xa, sau hai dãy nhà ven đường, thì nơi đây phải là thôn xóm nào đó ở miền châu thổ Cửu Long, một xứ quê rợp bóng dừa của bất cứ vùng nào trong miền tây nam phần. Nắng chỉ le lói xuyên qua kẽ lá của hai hàng đừa chụm đầu che mát cả một đoạn dài trên quốc lộ. Không khí êm ả, thơ mộng đến mức chỉ muốn gối đầu trên ba lô, rồi nằm ngay trên mặt nhựa để …làm thơ. Sông Cầu là đây! Vùng đất mang tên của một con sông. Vườn địa đàng của một thời phồn thịnh với sự tọa lạc của Tòa Công Sứ Pháp vào năm 1889 hay trước đó đã đi vào lịch sử nước nhà khi Viên Ngoại Nguyễn Tri Phương đón tiếp phái viên của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ Edmund Robert và thủy thủ đoàn của tàu Peacock vào năm 1832.

Ai ra xứ Huế
Nhớ ghé Sông Cầu
Mua cao, mua trầu…
Dừa Sông Cầu, củi lửa Sông Mao…
Những vần điệu của thi sĩ Kiên Giang đã nói lên gần hết những nét đặc trưng của nơi này, nơi đã có lần đón vua Bảo Đại về thăm trước đây và hôm nay đang là trạm dừng chân của những người lính quân trường trên đường thi hành chiến dịch.

Tâm trạng này kéo dài cho đến lúc đoàn GMC bắt đầu leo đèo Cù Mông, ngọn đèo có con dốc thăm thẳm nơi hướng Nam và những cua quẹo hiểm trở trên đỉnh. Đèo không cao, chỉ 245 mét so với mặt biển, và không dài, chỉ có 6Km, nhưng ranh giới của Bình Định và Phú Yên này cũng là nơi địch thường hay phục kích các đoàn quân xa hay chận đón xe cộ các loại trước khi được sư đoàn Bạch Mã của Đại Hàn góp phần bảo vệ và gìn giữ an ninh. Lại một thoáng cảm hoài khi nghĩ đến đoàn quân nam tiến của nhà Lê thời nam tiến. Người lính chân đất ngày xưa đã bỏ ra bao nhiêu thời gian để vượt đoạn đường tráng nhựa của ngày nay. Và ai là người đã dẫn đội tiên phong phá rừng, xẻ lối để con cháu về sau tiếp tục cuộc nam chinh và mở mang bờ cõi!? Còn đang trải lòng theo tưởng tượng và mơ màng về lịch sử nước nhà thì xe đã đổ đèo hồi nào không hay. Bình Định đây rồi!

Bình Định của Tam Kiệt và Nhạc Võ Tây Sơn- mà nổi bật hơn hết là Song Thủ Đả Thập Nhị Cỗ- cùng với không biết bao nhiêu câu chuyện về văn hóa, con người, cũng như lịch sử đang đón chào đoàn thanh niên chiến dịch trong màu nắng trong lành của buổi chiều vào xuân. Thoáng mơ màng khi nãy đã nhường chỗ cho sự rộn ràng khi đoàn xe quẹo phải tại ngả ba tỉnh lộ 440 để chạy thẳng về hướng biển. Đoạn đường chừng 10 km chỉ vừa đủ để mọi người lóng nhóng nhìn hai bên đường. Chưa kịp quen mắt với cảnh vật thì đoàn xe đã dừng ngay một ngả ba. Xuống xe. Tập họp rồi…nhìn nhau chờ đợi.

- Chỗ này là chỗ nào?

- Gành Ráng!

- Sao mày biết?

- Thì mình đang đứng ngay trước Trường Tiểu Học đây nè!

- Chỗ này thuộc Quận Nhơn Bình.

Người tài xế Quân Vận vừa đi ngang qua, nói với lại. Rồi chỉ tay về phía con lộ chạy vòng lên hướng bắc, anh tiếp lời.

- Qui Nhơn ở ngoài kia, còn chừng 5,6 cây số nữa.

Mấy trăm “ con cá Alpha “ lần luợt vào bên trong rồi tập trung ngoài sân trường. Chiều đang dần xuống. Trường tan từ lâu. Hay có thể đang đóng cửa để nghỉ Tết không chừng. Lại chờ đợi. Không có diễn văn. Chỉ vài lời chào đón của một sĩ quan đại diện Tiểu Khu, đại khái nói về Bình Định, về Chi Khu Nhơn Bình và Gành Ráng. Sau đó sĩ quan cán bộ của quân trường gặp gỡ và bàn bạc với một số giới chức của Tiểu Khu. Một lát sau thì các khóa sinh “ chức sắc “ được gọi đến gặp cán bộ để phân công nhận phòng ốc nghỉ ngơi. Một ngày dang nắng đủ để thấm mệt, nhưng cơm chiều bằng gạo xấy và thịt ration thật ngon miệng làm sao! Có lệnh cắm trại nhưng cổng trường vẫn rộng mở. Nhiệm vụ canh gát và an ninh có lính của Chi Khu Nhơn Bình đảm nhiệm nên qúi vị “ Alpha “ thoải mái ra vào. Ngoại trừ những ai mõi mệt vì 6,7 tiếng dang nắng trên đoạn đường 250 km đang nằm ngồi dật dựa trong phòng lớp, đa số còn lại tản bộ ngoài sân hay tụm năm, tụm ba tán chuyện, hoặc thả mắt nhìn qua nóc ngói để hướng về những viền núi kề bên như để thu hết quang cảnh chung quanh trường trước khi trời vào tối.

- Ê Mọt sách! Theo tụi tao dạo một vòng bên ngoài không?

- Tao không có hứng. Để mai hẵn hay.

Đám bạn không khách sáo, lôi nhau lũi nhanh ra cổng. Một ngày sắp tàn. Một ngày mai hòa bình đang dần đến. Còn hôm nay: ngày đầu chiến dịch đúng là một ngày du lịch miễn phí!

oOo

Sáng dậy uể oải, lừ đừ, mặc dù các cán bộ của Tiểu Đoàn Khóa Sinh rất du di về giờ giấc bởi lẽ ai nấy cũng đã quá quen với chuyện ngủ nướng trong những ngày sống ngoài vòng kỷ luật của quân trường suốt mấy tháng qua. Tập họp. Điểm danh như thông lệ. Vẫn không có thông báo gì mới mẻ ngoại trừ có tin là cơm chiều sẽ do Tiểu Khu khoản đãi.

- Phải vậy mới được chứ! Vài tiếng reo vui sau khi nghe vị sĩ quan của Tiểu Khu nói xong.

- Ừ! Ít ra cũng phải chơi đẹp như Đại Tá Nghĩa của Bình Thuận mới được.

- Như vậy thì từ bây giờ cho tới chiều thì mình làm gì?

- Tìm cách ra Qui Nhơn gởi tiền trả nợ cho câu lạc bộ của Chi Khu Hòa Đa. Lâm Hoài Nam khẳng khái nói. Tụi mình phải giữ lời hứa mới với họ.

- Được thôi! Nhưng cà phê cà pháo trước đã. Đứa nào muốn ra ngắm biển thì theo tao. Kiệt “ mã tấu “ nói xong là vọt ngay ra phía cổng.

Càfé Thanh Thủy mang dáng dấp của một quán bar thời quân đội Mỹ còn hiện diện. Chỉ mới một, hai năm nên cách bày biện và trang trí vẫn còn nguyên không khí Hippie phản chiến với bông hoa, màu sắc trừu tượng và poster dán đầy trên tường. Quán có hai dãy bàn con nối nhau chạy tít ra phía sau. Cửa trước sát đường lộ, cửa sau nằm ngay bãi biển. Nắng sáng len qua cửa dọi chéo lên tường, để lại một vệt dài trên lối đi. Nhạc từ phía nhà trên vọng xuống đều đặn. Những bài thời trang quen thuộc Pháp, Mỹ, Việt nghe hoài không thấy chán. Cả nhóm năm mạng trầm ngâm nhìn trời, ngắm biển. Sóng nhẹ đang vỗ bờ. Cát mang màu vàng thật đậm. Không phải là bãi tắm được ưa chuộng là cái chắc vì rác rến đầy dẫy. Nhưng không sao! Đằng nào thì cũng là trời xanh, nắng trong, cà phê, và âm nhạc nơi xứ lạ đủ để tạo nên giây phút thoải mái của một buổi sáng đầu tiên nơi vùng đất nổi tiếng về nhiều mặt.

- Thôi! Mình đi. Lâm Hoài Nam bất chợt đứng dậy.

- Đi đâu!?

- Ra Qui Nhơn.

Nam vừ nói vừa ra quầy trả tiền. Cả đám lần lượt bước theo. Ngoài đường xe cộ qua lại thưa thớt. Không thấy xe Lam hay xe đò đâu cả. Đa số là xe nhà binh. Một vài nhóm mang bê rê xanh cũng đa cà rà trên lề.

- Không lẽ chờ xe hoài hay sao?! Hoàng “ nhảy dù “ sốt ruột hỏi.

- Vậy thì lội bộ cho chắc ăn.

- Ê “ Mọt sách “! Thiệt hay giỡn chơi vậy cha nội! Kiệt “ Mã Tấu “ nhăn nhó.

- Hòn Khô còn leo được, nhằm nhò gì mấy cây số đường nhựa chớ!

- “ Mọt Sách “ nói đúng! Mình vừa đi vừa xin quá giang …Lâm Hoài Nam nói xong là rảo chân bước đi ngay.

Năm chiếc mũ xanh thả bộ trên lòng đường, thỉnh thoảng ngoái đầu lại để ra hiệu quá giang khi có xe nhà binh lướt qua. Đã đi được một quãng khá xa mà vẫn chưa có chiếc nào dừng lại. Không sao! Thời gian còn dài, cứ tà tà rồi cũng tới phố Qui Nhơn thôi. Lại thêm một đoạn nữa mới thấy bóng dáng một chiếc Jeep đang trờ tới. Lần này cả năm tên bảo nhau đứng thành hàng ngay ngắn chứ không lè phè vừa bước vừa đưa tay ra hiệu. Măm ngón cái đồng loạt giơ lên một cách từ tốn. Chiếc Jeep rề rề cặp sát lề rồi ngừng hẵn. Mấy Alpha Đồng Đế lom khom nhìn vào xe, chưa kịp nói gì thì lật đật dội lại, thẳng người chào kính. Người tài xế có vẻ hài lòng, nhưng chỉ khẽ gật đầu rồi vừa kéo cặp kiếng mát xuống mũi vừa hỏi:

- Mấy cậu tính ra phố phải không?

- Dạ phải. Lâm Hoài Nam nhanh miệng trả lời. Nếu tiện thì xin Thiếu Tá cho quá giang vào thị xã.

- Lên xe đi. Nói xong là ông đẩy cặp kiếng trở lên mắt rồi sang số, lại chỉ gật đầu khi cả đám cám ơn và phóng lên xe thật nhanh.

Sau vài câu hỏi han thì không khí cởi mở hơn. Thiếu Tá Vân cho biết ông xuất thân Khóa 5 TrườngVõ Khoa Thủ Đức, lận đận trên đường binh nghiệp nên “… Bạn bè chuẩn bị lên tướng còn mình lẹt đẹt quan tư. Nghĩ cũng buồn, nhưng bù lại thì đang hưởng nhàn trong phòng 4 của Tiểu Khu... ‘’

Đoạn đường ngắn. Thời gian không nhiều nên chỉ thêm vài câu hỏi han và chúc lành của thiếu tá Vân là xe đã dừng ngay trước Bưu Điện Qui Nhơn theo lời yêu cầu của Lâm Hoài Nam. Vẫn là cái gật đầu để nhận tiếng cám ơn của đám đàn em là thiếu tá Vân cho xe vọt ngay. Chỉ vài phút là gởi xong điện phiếu trả nợ cho câu lạc bộ của Chi Khu Hòa Đa. Kể ra thì họ cũng tốt bụng thật. Dám cho đám lính quân trường ăn uống ghi sổ đến ngày cuối mà không sợ bị quỵt tiền.

- Bây giờ đi đâu cho hết giờ đây!?

- Đi đâu cũng được. Hay là mình ra phố đi.

- Trời đất! Đây là phố rồi cha nội. Ra vô cái nỗi gì nữa chứ.

- Vậy thì cứ nhắm hướng đi đại cho rồi.

Rốt cuộc cả đám kéo nhau đi về hướng chợ. Chỉ còn một tuần nữa là Tết đến nên phố xá nườm nượp người qua lại. Lòng vòng phố xá để nhìn người, ngoạn cảnh chưa bao lâu là thấy đói nên chúng tôi tấp ngay vào một quán ăn gần công viên của thị xã. Bữa cơm ngon miệng vừa xong là đã ồn ào tiếng bàn tán cho chương trình còn lại trong ngày.

- Tạt qua công viên Gia Long một chút đi.

- Chi vậy?

- Tao muốn thử phá trận thế của mấy tay cờ tướng.

Cả đám dồn mắt qua Hòang “ nhảy dù “. Anh bạn đi bãi xa ngủ gục, té từ trên GMC xuống đường mà chỉ mẻ răng và xây xát nhẹ, hưởng biệt danh này trong lúc còn huấn nhục.

- Không lẽ lại vào quán cà phê nũa sao?! Hoàng nhà ta vừa vuốt lại bê rê vừa tiếp lời.

- Hay là chui vào xi nê đi . Mình còn mấy tiếng nữa lận. Miễn sao về kịp giờ đi ăn trong Tiểu Khu là được rồi.

- Ra biển coi có gì lạ hay không. Xi nê có gì hay mà coi chứ !?

- Ê Khanh ‘’ ca nô ‘’ ! Mày ở miệt ngoài này. Có biết thắng cảnh nào của
Qui Nhơn không?

- Trại cùi Qui Hòa nghe nói có bãi biển rất đẹp nhưng tao chưa biết ở đâu. Chắc phải đi xa lắm. Thôi! Mình về là vừa. Chiều còn qua Tiểu Khu nữa.

- Vậy thì tao qua bên kia thử phá vài trận cờ thế. Đứa nào muốn về Gành Ráng thì cứ đi trước.

Hoàng ‘’ nhảy dù ‘’ nói xong là bước nhanh ra cửa, thái độ cương quyết. Cả đám lật đật theo sau nhưng rồi vẫn xớ rớ trên vĩa hè định bàn tiếp chương trình thì có một giọng nói từ sau vọng tới:

- Mấy anh có muốn đi thăm Qui Hòa không ?

Chưa có ai trả lời thì một quân nhân từ trong quán đã bước ra đứng kề bên, chìa tay bắt từng người rồi tiếp:

-Tôi có mặt lúc tiếp đón các anh chiều hôm qua. Nếu ai muốn vào Qui Hòa đi thì theo tôi. Không thì cũng cứ leo lên xe. Tôi đưa về. Vào Qui Hòa cũng phải đi qua Gành Ráng thôi.

Cả nhóm còn đang lưỡng lự và bất ngờ thì người lính tự giới thiệu:

-Tôi tên Hạnh, ban 5 Chi Khu Nhơn Bình. Tôi có dư chút thì giờ. Vậy nếu mấy anh thích thì theo tôi vào thăm nơi ở của Hàn Mặc Tử.

-Tôi đi !

Lâm Hoài Nam nói xong là phóng ngay lên xe. Lần này thì coi bộ cả đám đã xiêu lòng nên không ai còn khách sáo. Chiếc Jeep ‘’ lùn ‘’ quay đầu hướng về Gành Ráng trong tiếng cười vui và hỏi han anh Hạnh liên tục về những gì mọi người muốn biết về Qui Nhơn và về Bình Định.

-Đẹp quá!

Tiếng súy‎t xoa của ‘’mọt sách’’ làm cả nhóm nhoài người nhìn qua hướng tay chỉ khi chiếc Jeep bắt đầu leo một đoạn đường đèo. Thung lũng phía dưới, vách đá kề bên, xa xa là mấy dãy núi chạy mờ mờ. Phía sau lưng là những khóm nhà của Gành Ráng và tỉnh lộ 440 thì như sợi chỉ xám vắt ngang nền nâu nhạt của đất biển. Núi không cao, đèo không dốc gắt, nhưng toàn cảnh đẹp như đoạn đường lên Bảo Lộc hay lúc mới vượt đèo Prenn trên Đà Lạt.

-Núi này tên gì vậy anh Hạnh? Lâm Hòai Nam chợt hỏi.

-Tôi không rõ lắm. Hình như là núi núi Xuân Vân hay núi Sơn gì đó!

-Vậy mình đặt tên cho con đường này đi. Coi như là kỷ niệm buổi du lịch bất ngờ này. Có tiếng ai đó đề nghị.

- Đúng đó! Cả đám còn lại lao nhao.

- Gọi là Đèo Sơn được không?

- Tên nghe khô khan quá!

- Ê ! ‘’Mọt sách ‘’! Mày đọc nhiều. Chọn một tên gì đi.

- Đèo Hạnh Ngộ! Tụi bây thấy sao?! Vừa ghép tên anh Hạnh, vừa kỷ niệm một ngày vui hiếm có. Được không?

- Hay lắm! Đúng là hạnh ngộ. Cả đám vỗ tay dòn dã sau câu nói của anh chàng ‘’ mã tấu ‘’.

Đoạn đèo không dài. Qui Hòa chỉ cách Gành Ráng chừng hơn một cây số. Xe đổ dốc để vào một khu lòng chảo rộng lớn, có vẻ phì nhiêu mầu mỡ với thôn xóm và ruộng vườn. Khung cảnh như bức tranh thơ với ba bề là núi non bao bọc chunh quanh, chỉ chừa hướng đông cho đất ruộng hòa với màu cát biển. Xe chạy vòng một nghĩa trang khá ngăn nắp nằm ngay trước ngôi làng.

- Mình vào đây xem chỗ ở của Hàn Mặc Tử cái đã.

Anh Hạnh nói xong là xe dừng trước ngôi nhà hai gian có khoảng sân nhỏ trồng vài loại hoa kiểng. Một người từ phía sân sau bước ra chào đón chúng tôi. Anh Hạnh giới thiệu người đàn ông xấp xỉ trung niên với chúng tôi, rồi thoải mái bước vào bên trong, vừa đi vừa nói:


- Căn nhà và cả khu làng này đã một thời là nơi du lịch của Qui Nhơn. Nay thì đóng cửa không tiếp du khách. Anh Ba đây là cháu của thi sĩ Hàn Mặc Tử được gia đình cắt cử về sống ngay trong làng để gìn giữ căn nhà mà Hàn Mặc Tử đã sống và sáng tác trước khi vào bệnh viện ngoài kia.


Nhà nhỏ, gọn gàng, ngăn nắp với một bàn con và hai chiếc ghế. Trên bàn là một bình trà và một ngọn đèn dầu. Kề bên, sát vách che nhà bếp phía sau là một chiếc giường lót chiếu. Gối, mùng xếp gọn đặt trên phía đầu nằm. Tường vách trống trơn. Có thể những di vật của thi sĩ đã được mang đi cất giữ nơi nào không biết, hoặc ông chỉ sống đơn sơ và giản dị như vậy không chừng. Cuộc thăm viếng ngắn ngũi nhưng đủ làm mọi người cảm khái. Không ai nói với ai lời nào khi chúng tôi đi một vòng rồi trở ra sân trong tâm trạng bùi ngùi, tưởng tiếc một tiền bối đã lìa đời quá sớm.

Người bà con của thi sĩ từ đầu tới cuối không nói gì với chúng tôi, nhưng ông có vẻ rất thân thiết với anh Hạnh. Dường như người quân nhân này thường xuyên mang những thứ cần thiết cho sinh hoạt hằng ngày cho cư dân trong làng vì có nhiều người đi qua đã dừng lại chào hỏi anh rất nồng hậu. Khi chúng tôi lên xe để vào trại Qui Hòa thì vài người còn nhắn anh mua dùm cho mấy thứ gia dụng gì đó.

Con đường vào làng đã đẹp, nhưng vào khu biệt lập của trại Qui Hòa còn đẹp hơn. Từ cổng chạy vào khu vực hành chánh là một con đường dài, rợp mát. Tàng dương cao, rậm đan vòm bên trên làm mọi người bất giác liên tưởng đến đoạn đường mùa thu tuyệt đẹp trong trong phim Docteur Zhivago. Khu hành chánh của trại mang dấu ấn của thời gian khá đậm nét. Đã loáng thoáng rêu phong. Đó đây là những loang lỡ trên tường vôi bạc màu. Không khí thật lắng trầm mặc dù chỉ mới quá ngọ không lâu. Tiếng sóng xa xa, tiếng rì rào của vòm lá càng làm tăng thêm vẽ tịch mịch của khu vườn trước tòa nhà chính của trại.

Chúng tôi vừa xuống xe thì bà Mẹ Bề Trên của trại Qui Hòa cũng từ trong bước ra tươi cười chào đón mọi người. Bà cũng có vẻ thân quen với anh Hạnh. Bà nói chuyện gì đó với anh rồi mới quay sang chúng tôi vồn vã mời dạo một vòng cho biết sinh hoạt trại.

- Lâu nay chúng tôi không có tiếp khách. Thỉnh thoảng mới có một phái đoàn từ Sài Gòn ra thăm, hay có đại diện của hội Hồng Thập Tự mang tặng phẩm, đa số là thuốc men, đến biếu. Qui Hòa gần như là một nơi cách biệt với thế giới bên ngoài. Chúng tôi cùng bệnh nhân tự túc về nhiều mặt trong đời sống và sinh hoạt hằng ngày.

Bà vừa đi vừa chỉ trỏ, giải thích mọi thứ. Không ai hỏi hay nói lời nào. Chỉ là những nụ cười cảm thông khi gặp gỡ những bệnh nhân cùng gia đình của họ tại những ngôi nhà nhỏ do trại cấp phát. Một vài người trông rất bình thường, đa số đều mang dấu ấn của căn bệnh trầm kha thật đáng tội nghiệp. Chúng tôi chỉ đi một vòng cho có lệ. Phần thì không muốn làm phiền người nữ tu tốt bụng, phần khác là không chịu nỗi cảnh trạng đang mục kích nên chúng tôi xin ghé vào thăm nguyện đường cổ kính và bé nhỏ của trại. Nơi tựa nương tinh thần của những người bất hạnh nằm im lìm như say ngủ. Ánh sáng từ cửa chính dọi vào làm ấm lại khỏang không gian tịch mịch, lạnh lùng với chỉ một ngọn nến trên thiên tòa.Vài lời kinh khấn vội. Vài ánh mắt lướt qua khung cảnh đơn sơ nhưng trang trọng, với những ảnh tượng đó đây, càng làm cho cõi lòng thêm bùi ngùi thương cảm cho phần số hẩm hiu của những người đang chịu khổ đau vì bạo bệnh.

Bà Mẹ Bề Trên từ giả chúng tôi ngay trước cửa nhà nguyện kèm theo lời chúc lành cho những ngày dấn thân sắp tới, và không quên nhắc anh Hạnh đưa chúng tôi ra ngắm bãi biển- mà theo lời Bà- thì đó là một thiên đàng hạ giới, một ‘’ nguồn ủi an cho những tâm hồn khổ đau vì tật bệnh !’’. Và quả đúng như thế. Bải cát mịn mang màu vàng nhạt chạy dài mút tầm mắt với những ngọn dừa hòa vào hàng dương xanh mướt, làm tăng thêm nét hài hòa của cảnh trí thiên nhiên. Trời xanh, nắng trong, gió rì rào, cây lá lao xao. Gía như được xoài người nằm nghe hòa tấu khúc của trời, đất, biển và thiếp đi một giấc trưa không mộng mị, thì quả là hạnh phúc. Tiếc thay, mọi người đã phải trở vào để lên xe ra về trong niềm lưu luyến thật sâu đậm.

Anh Hạnh không trở về lối cũ để xuống Gành Ráng mà cho xe vòng lên Chi Khu Nhơn Bình, trên núi XuânVân.

- Đã tới đây mà không ghé thăm mộ Hàn Mặc Tử thì uổng lắm. Đừng lo cho tôi. Thêm vài ba phút nữa thì nhằm nhò gì.

Chỉ thêm vài câu chuyện là xe đậu ngay trong sân Chi Khu. Anh Hạnh chỉ tay qua phía bên kia hàng rào kẻm gai, nơi có một ngôi mộ màu trắng:

- Hàn Mặc Tử nằm bên kia. Mấy anh qua đó trước. Tôi vào gặp xếp của tôi một chút rồi sẽ qua bên đó ngay.

Anh Hạnh nói xong là đi vào trong doanh trại. Chúng tôi cũng bước qua khu mộ. Một vài quân nhân dơ tay vẫy. Vài nụ cười tươi tắn thay cho câu chào. Không ai hỏi han gì đến chúng tôi. Chỉ vài chục bước là cả nhóm đối diện với một khóm hàng rào kẽm gai. Bên trong là mộ chí của người thi sĩ tài hoa mệnh yểu. Màu thời gian đã hằn nét trên nền sơn trắng đã lem lấm dấu rêu. Hai tượng thiên thần trên bia mộ bị sứt mẻ vài nơi trên đôi cánh. Phanxicô Nguyễn Trọng Trí về nước Chúa từ lâu nhưng vẫn để lại trong lòng khách mộ điệu và làng thơ miền Nam Việt Nam một niềm tưởng tiếc khôn nguôi.

Đám hậu sinh thẫn thờ trước khung cảnh vừa nên thơ lại vừa gợi tình của khu vực chung quanh ngôi mộ. Nếu như không có vòng rào kẽm gai, không có đồn trại vốn mang dấu ấn binh đao ở kề bên, thì nơi đây đúng là chốn gợi hồn thơ. Thi sĩ nằm đây tha hồ nghe sóng biển rì rào và gió núi đòi trăng. Mờ mờ trong sương khói là bán đảo Qui Nhơn và đầm Thị Nại. Ngay dưới chân núi là khu biển Gành Ráng. Nắng đẹp, trời xanh. Gío mát rượi đủ làm sảng khoái cho những hơi thuốc lắng sâu trong buồng phổi. Chúng tôi chỉ biết nhìn biển, núi, trời, mây để tận hưởng hạnh phúc lâng lâng rất khó diễn đạt thành lời.

-Thi sĩ Quách Tấn và gia đình bốc mộ từ trong nghĩa trang Qui Hòa năm 1959 mang ra đây cải táng. Chánh phủ thời đó rất trân trọng tài năng của Hàn Mặc Tử nên mới cho phép chôn tại đây.

Anh Hạnh vừa nói vừa vượt qua hàng rào kẽm gai đến bên chúng tôi. Chỉ tay qua phía Chi Khu, anh nói tiếp:

- Nơi này là khu quân sự. Chi Khu Nhơn Bình là mắt thần canh giữ toàn khu vực phía nam của Qui Nhơn, từ đất liền ra tới biển. An ninh số một. Nếu không có chiến tranh thì nơi này thật là ly’ tưởng để xây dinh thự hay trung tâm du lịch hão hạng. Tiếc thay...

Anh bỏ lững câu nói và sau đó đứng im lặng thả khói. Cuộc vui rồi cũng đến lúc tàn. Cả nhóm bịn rịn nhìn quanh khóm núi. Thêm vài lời kinh thầm nguyện cho Phanxicô. Thêm vài ánh mắt lướt nhanh trên ngôi mộ để ghi nhận và lưu trữ hình ảnh của một chốn nên thơ. Không ai nói lời nào khi theo anh Hạnh leo lên xe. Gío bỗng dưng trở lạnh nhưng không ai buồn kéo cao cổ áo.

Con đường xuống đèo bỗng dưng thật ngắn ngủi dù anh Hạnh cố tình thả dốc thật chậm. Chia tay với người quân nhân vui tính, tốt bụng mà cảm thấy bồi hồi như thể xa lìa một người bạn thân thiết từ lâu. Chúng tôi hẹn nhau một cơ duyên nào đó cho dịp tương phùng trong tương lai mặc dù vẫn biết khó lòng gặp lại. Chỉ mới ngày thứ nhì đặt chân lên đất Qui Nhơn nhưng trong lòng đã hằn nét một kỷ niệm khó phai của một mùa xuân hạnh ngộ. Qui Nhơn, Gành Ráng, Qui Hòa chắc chắn sẽ là những hình ảnh ấm lòng mỗi khi nhớ lại mùa xuân chiến dịch năm nào.

Huy Văn

(Thân ái tặng các Alpha Lê Quốc Hùng, Lâm Hoài Nam, Nguyễn Văn Khoái, Võ Sĩ Hùng, Trần Anh Kiệt ( " mã tấu " ), Khanh " ca nô ", Hoàng " nhảy dù " và nhóm ‘’ Hòa Đa ‘’ để nhớ mùa Xuân Chiến Dịch 1973 tại Bình Định. Cũng để nhớ Alpha Nguyễn Trung Thành, RIP)